Những người phụ nữ có đóng góp quan trọng trong ngành lọc nước thế giớ – A. O. Smith Việt Nam

Những người phụ nữ có đóng góp quan trọng trong ngành lọc nước thế giới

Câu chuyện về những người phụ nữ thúc đẩy ngành nước phát triển trong quá khứ lẫn hiện tại.

Theo nhiều cách, ngành xử lí nước được khai sinh bởi phụ nữ. Năm 1921, khi Anna Culligan sinh đứa con đầu lòng, chồng cô - Emmett, đang ở  bệnh viện tìm hiểu về phương pháp làm mềm nước bằng zeolit ​​từ các nhân viên bảo trì.

Bệnh viện lúc đó đang dùng cát zeolite tự nhiên để xử lý nước lò hơi. Bị thu hút, Culligan bắt tay vào phát triển vật liệu zeolit ​​tổng hợp. Năm 1936, ông mở cơ sở kinh doanh làm thiết bị làm mềm nước tại vòi (sử dụng bình chứa nước treo bên trên vòi) và sau đó là thiết bị làm mềm nước di động (các thùng chứa đầy chất làm mềm nước được thu cũ đổi mới hàng ngày dành cho gia đình, doanh nghiệp).

Tuy nhiên, Culligan cần tiếp thị và bán hệ thống làm mềm nước của mình. Là một người đàn ông của gia đình, ông đã tìm đến những người thân có chung tinh thần khởi nghiệp để triển khai việc tiếp thị và phát triển một mạng lưới nhượng quyền bằng con đường truyền miệng.

Với tính chất doanh nghiệp gia đình và người mua hàng thường là nữ, phụ nữ là nhân tố trọng yếu trong sự thành công của thương hiệu làm mềm nước nhượng quyền của Culligan.

Từ một công ty nhỏ, một ngành công nghiệp lớn đã ra đời.

Từ những ngày đầu tiên của ngành công nghiệp nước

Cũng như hầu hết các ngành công nghiệp, ngành nước đã và đang được chiếm lĩnh bởi phái mạnh.

Tuy nhiên, nữ giới luôn là một phần không thể thiếu trong sự thành công của ngành nước. Từ việc tích cực tham gia các hiệp hội thương mại cho đến thúc đẩy quá trình vận động hành lang cho các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng nước cao hơn.

Một trong những phụ nữ nổi tiếng có tác động đến suy nghĩ của người Mỹ về môi trường và nước là Rachel Carson. Cuốn sách của bà, "Silent Spring", đã nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc trừ sâu đối với môi trường và phát động nhiều chiến dịch xanh, bao gồm cả chống việc sử dụng DDT. Gần 60 năm kể từ khi được xuất bản vào năm 1962, cuốn sách tiếp tục là một nền tảng tư tưởng về hoạt động môi trường. Vào năm 2014, nhà sử học tự nhiên Sir David Attenborough đánh giá: sau cuốn sách “Về nguồn gốc các loài” của Darwin, “Silent Spring” của Carson là cuốn sách đã thay đổi tư duy khoa học mạnh mẽ nhất.

Thật không may, thập niên 70 và 80 là một phần của thời kì không mấy tốt đẹp trong ngành công nghiệp nước. Các phương pháp phi đạo đức đã được sử dụng để tiếp thị và bán những sản phẩm làm mềm và lọc bỏ các hóa chất độc hại trong nước.

Một số sản phẩm trong thời kì này thậm chí làm ô nhiễm nước với nhiều hóa chất hơn lượng được loại bỏ. Các nhà điều hành hệ thống xử lí nước của thành phố không hào hứng với việc các sản phẩm có thể cải thiện hệ thống đã có. Một số tiểu bang phát triển các quy định, quy chuẩn riêng cho hệ thống xử lý nước. Nếu thành công, việc này sẽ khiến quá trình chứng nhận trở nên rất khó khăn bởi các nhà sản xuất sẽ phải thông qua nhiều bước để có thể tiếp thị sản phẩm trên toàn quốc.  Cuối cùng, ngành công nghiệp xử lí nước nhận ra rằng cần nâng cao tính hợp pháp cho các tiêu chuẩn về hiệu suất và tính an toàn của sản phẩm

Tiên phong trong tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm

Nina McClelland, Nancy Culotta, Donna Cirolia và Loretta Trapp là bốn người phụ nữ đã góp phần đưa các tiêu chuẩn độc lập  về hiệu suất / an toàn vật liệu và kiểm tra chứng nhận sản phẩm bởi bên thứ ba.

Bà Nina McClelland là chủ tịch và giám đốc điều hành của Tổ chức giám định độc lập về an toàn vệ sinh thực phẩm và nước uống (NSF International). Dưới sự lãnh đạo của bà, NSF đã bắt đầu sáng kiến ​​phát triển các tiêu chuẩn sản phẩm cho hệ thống xử lý nước uống. Bà Nancy Culotta là tổng giám đốc của chương trình Nước uống và Nước thải tại NSF và là người phụ trách các nỗ lực phát triển tiêu chuẩn.

Dưới sự lãnh đạo của bà Culotta và bà McClelland, sáu tiêu chuẩn đã được tạo ra, trở thành thông lệ quốc tế và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Đó là:
1) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 42: Bộ xử lý nước uống - Hiệu quả thẩm mỹ;
2) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 44: Chất làm mềm nước trao đổi Cation dân dụng;
3) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 53: Thiết bị xử lý nước uống – Hiệu quả sức khỏe;
4) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 55: Hệ thống xử lý nước bằng vi sinh bằng tia cực tím;
5) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 58: Thiết bị xử lý nước uống công nghệ thẩm thấu ngược;
6) Tiêu chuẩn NSF / ANSI 62: Hệ thống chưng cất nước uống.

Bà Donna Cirolia là giám đốc phụ trách các vấn đề chính phủ tại Hiệp hội Chất lượng Nước toàn cầu (WQA) và đã phụ trách chiến dịch ở cấp liên bang lẫn tiểu bang để đạt được sự chấp nhận cho các tiêu chuẩn mà NSF đang phát triển. Bà đã mang lại phương diện mới dành cho các sản phẩm và dịch vụ mà ngành nước cung cấp.

Đó là thời kì thú vị khi được trở thành một phần của ngành và sự phát triển chính sách, ” Bà Cirolia cho biết. “Chúng tôi đã đối mặt với những thách thức như những buổi làm chứng trước các nhà hoạch định chính sách cấp liên bang và tiểu bang; các hội thảo giáo dục mang tính đột phá trên toàn quốc với các cơ quan quản lý, NSF và các công ty cấp nước để chứng minh cam kết của chúng tôi về hiệu quả của sản phẩm thông qua các tiêu chuẩn độc lập và Bộ quy tắc quảng cáo.”

Bà Loretta Trapp là giám sát đánh giá sản phẩm của Bộ Công nghiệp, Lao động và Xã hội của bang Wisconsin. Bà đã làm việc để phát triển các tiêu chuẩn sản phẩm nước uống nghiêm ngặt cho Wisconsin và giúp phát triển Tiêu chuẩn NSF / ANSI 61: Các thành phần của hệ thống nước uống. Bà dẫn đầu nỗ lực để đảm bảo rằng thử nghiệm chiết xuất hóa học phải được dựa trên tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích.

Bốn người phụ nữ này đã mang lại sự ổn định và các tiêu chuẩn thống nhất cho ngành nước, đảm bảo tính hợp pháp của ngành và giúp xây dựng lòng tin của người tiêu dùng và các cơ quan quản lý. Chính điều này đã giúp ngành nước tiếp tục phát triển và khởi sắc.

(Các sản phẩm của A. O. Smith đều trải qua những kiểm định nghiêm ngặt, đạt chất lượng quốc tế NSF, WQA, đảm bảo an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng)

Thúc đẩy sự phát triển của ngành xử lý nước

Một nhân vật quan trọng khác trong lĩnh vực nước và môi trường là bà Erin Brockovich, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng với việc đưa vấn đề ô nhiễm nước Chromium-6 ra ánh sáng ở California. Mặc dù bà không phải là một nhà khoa học hoặc luật sư được đào tạo, những nỗ lực của bà đã dẫn đến vụ kiện thành công chống lại Công ty Điện và Khí Thái Bình Dương vào năm 1993. Sự kiện này đã giúp khơi dậy phong trào đấu tranh  trên khắp Hoa Kỳ và toàn cầu, vì đã cho thấy các tập đoàn có thể phải chịu trách nhiệm về ô nhiễm trước pháp luật một cách thực sự.

Bộ phim năm 2000 có tựa đề "Erin Brockovich" (phóng tác dựa trên câu truyện của bà) với Julia Roberts đóng vai Brockovich, đã giúp thu hút sự chú ý rộng rãi hơn nữa đến vai trò của "những công dân bình thường" trong việc đòi hỏi an toàn nước.

Học giả và nhà nữ quyền sinh thái nổi tiếng Vandana Shiva cũng đấu tranh trong nhiều thập kỷ vì chất lượng và an toàn nước cũng như nhiều vấn đề môi trường khác. Ảnh hưởng trên toàn cầu của bà rất lớn, với sự xuất hiện thường xuyên trong các bộ phim tài liệu quốc tế, tham gia nhiều sự kiện quốc tế và thực hiện các buổi thuyết trình trên khắp thế giới. Với nhiều người, bà là gương mặt và tiếng nói của phong trào bảo vệ môi trường toàn cầu.

Một đại diện khác của phong trào là cô bé Greta Thunberg 17 tuổi, người đã giúp một thế hệ thanh niên lên tiếng chống lại sự suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Dù không trực tiếp liên quan tới ngành công nghiệp nước, nhưng cam kết của cô trong việc yêu cầu chính phủ và ngành công nghiệp hành động về biến đổi khí hậu đã gây được tiếng vang với những người trẻ tuổi trên toàn thế giới. Cô chắc chắn là mang lại ảnh hưởng tích cực trong các cuộc thảo luận về môi trường nhiều thập kỷ tới.

Dù còn một chặng đường dài để đạt được bình đẳng giới thực sự trong ngành nước, nhưng không thể phủ nhận phụ nữ đã hoạt động tích cực trong ngành từ ngày thành lập - từ việc tham gia phát triển chuỗi nhượng quyền xử lý nước và thu hút sự chú ý của người tiêu dùng đến các vấn đề chất lượng nước, để giúp tạo ra các tiêu chuẩn mà ngành nước tự kiểm soát. Ở những nơi ngành công nghiệp nước và hành động môi trường được coi trọng, phụ nữ chắc chắn tạo ra sự khác biệt.

Những người phụ nữ có đóng góp quan trọng trong ngành công nghiệp nước

Hiệp hội Chất lượng Nước toàn cầu (WQA) luôn tích cực hỗ trợ chương trình Women in our Industry (WIN).  Chương trình này có mục tiêu tư vấn cho các thành viên và các công ty thành viên về các chủ đề liên quan đến lực lượng lao động nữ, khuyến khích phụ nữ tham gia vào ngành công nghiệp. Tiêu biểu như chương trình cố vấn cung cấp cho phụ nữ kiến ​​thức và lời khuyên cần thiết để thành công trong lĩnh vực công nghiệp.

Những người phụ nữ tạo nên tác động đến ngành công nghiệp ngày nay:

Pauli Undesser, nữ giám đốc điều hành đầu tiên của WQA. Bà Undesser gia nhập ngành với tư cách là một nhà khoa học nghiên cứu từ ngành công nghệ sinh học và sau đó thăng tiến từ một điều phối viên chứng nhận sản phẩm WQA để trở thành nữ giám đốc điều hành đầu tiên. Bà đã để lại dấu ấn tích cực trên từng cương vị mà mình đảm nhiệm. Tiếp quản WQA vào một thời điểm đầy “sóng gió”, bà đã đưa tổ chức lên một tầm cao mới về tính chuyên nghiệp và sự tôn trọng. Những nỗ lực của bà trong việc hợp tác với Hiệp hội Công trình Nước Hoa Kỳ (AWWA), các cơ quan quản lý liên bang và tiểu bang, các tiêu chuẩn đạo đức ngành mới, v.v. sẽ tiếp tục mang lại tác động trong nhiều năm tới. Bà Undesser cho biết đã “may mắn trong suốt sự nghiệp khi được bao quanh bởi những người đàn ông và phụ nữ có ảnh hưởng, những người sẵn sàng thúc đẩy mong muốn học hỏi và phát triển cá nhân, nghề nghiệp mạnh mẽ. Sự trỗi dậy của phụ nữ trong ngành xử lý nước cũng như thành lập hội đồng cố vấn WQA WIN là một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của tôi".

Denise Urbans, một doanh nhân, lãnh đạo kinh doanh trong ngành nước và cũng là là nữ chủ tịch đầu tiên của WQA. Là một doanh nhân, bà Urbans thành lập các doanh nghiệp xử lý nước của riêng mình, Res-Kem Corp. & General Water Services, và phát triển chúng thành các dự án thành công mà sau này được mua lại. Hiện tại, bà lãnh đạo ShedWater LLC. và Urbans Aqua. hoạt động tích cực trong WQA ở nhiều phương diện.

Bà đã có kinh nghiệm ở nhiều vị trí trong hội đồng quản trị WQA trước khi trở thành chủ tịch. Bà cũng là chủ tịch ủy ban WQA’s WIN nhằm khuyến khích phụ nữ trong ngành xử lý nước tham gia vào WQA với vai trò lãnh đạo hơn. Bà rất mong muốn thấy nhiều phụ nữ hơn trờ thành những chủ tịch WQA tiếp theo.

Bà Rebecca Tallon, giám đốc kỹ thuật tại A. O. Smith, đã nhận được Giải thưởng WQA 2020 vì những đóng góp cho ngành nước

Rebecca Tallon, giám đốc kỹ thuật tại A. O. Smith, đang có những bước phát triển rất vững chắc. Bà đã tham gia và chủ trì nhiều ủy ban ở NSF và WQA. Bà là thành viên của Ủy ban Hỗn hợp Đơn vị Xử lý Nước uống (DWTU) của NSF và là chủ tịch Ủy ban Khoa học về Nước của WQA, Quỹ Nghiên cứu Chất lượng Nước (WQRF), và hiện là thành viên của Hội đồng Quản trị WQRF. Bà Tallon đã nhận được Giải thưởng WQA 2020 vì những đóng góp cho ngành nước.

Margaret “Maggie” Bicking, quản trị viên cấp cao về tiêu chuẩn sản phẩm của EcoWater Systems LLC., luôn thành viên tích cực của WQA và NSF kể từ khi gia nhập ngành. Bà là thành viên lâu năm của NSF DWTU J. Trên thực tế, trong hầu hết nhiệm kỳ của mình tại JC, bà là đại diện nữ giới duy nhất. Bà Maggie nằm trong nhiều ủy ban của WQA lẫn NSF và đã đóng góp vào sự phát triển và cải tiến liên tục các tiêu chuẩn và công nghệ.

France Lemieux, người đứng đầu bộ phận Vật liệu và Xử lý, Cục Chất lượng Nước và Không khí tại Bộ Y tế Canada, là một thành viên lâu năm khác của NSF JC đại diện cho các cơ quan quản lý và Hội đồng Đánh giá Y tế Công cộng của WQA (PHRB). Những đóng góp của bà trong việc phát triển và cải tiến các tiêu chuẩn và quy chuẩn là vô cùng to lớn. Bà đã lãnh đạo lẫn tham gia trong nhiều ủy ban NSF và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các tiêu chuẩn. Bà Lemieux đã nhận được Giải thưởng Thành viên Danh dự WQA 2020 cho những đóng góp của mình.

Nguồn: wqpmag.com

Danh sách so sánh